Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 11 người, vào ngày Mon Sep 19, 2011 3:39 pm
Latest topics
» Năm mới Ất Mùi 2015
Mon Mar 23, 2015 3:15 pm by Minh Châu

» Chúc mừng sinh nhật Nguyên Hà
Tue Mar 12, 2013 9:06 pm by Trương Nguyên Hà

» Chúc mừng sinh nhật Vĩnh Long.
Sun Mar 03, 2013 2:37 pm by Minh Châu

» Trả lời thư Minh Châu
Tue Feb 19, 2013 4:36 pm by Nguyen thi kim hiep

» lien lac
Tue Feb 19, 2013 12:15 pm by Minh Châu

» Chúc Mừng Năm Mới 2013
Wed Jan 23, 2013 10:09 am by Minh Châu

» Truyện Ngắn: THƯƠNG NHỚ HOÀNG LAN
Sun Jun 17, 2012 1:57 pm by Minh Châu

» Live chat 12A
Fri Apr 20, 2012 10:41 am by dntn_tamhien

» NHẠC SẾN, NHẠC SANG
Mon Apr 16, 2012 2:46 pm by Minh Châu

RSS feeds


Yahoo! 
MSN 
AOL 
Netvibes 
Bloglines 


Statistics
Diễn Đàn hiện có 37 thành viên
Chúng ta cùng chào mừng thành viên mới đăng ký: Nguyen thi kim hiep

Tổng số bài viết đã gửi vào diễn đàn là 534 in 219 subjects

PHÂN TÂM HỌC

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

PHÂN TÂM HỌC

Bài gửi  Nguyễn Anh Huy on Sat Jul 03, 2010 6:16 am

Đáng lẽ nếu có thêm các chuyên mục "Tâm lý", "Lịch sử"... thì bài viết sau đây sẽ đưa vào mục "tâm lý", không biết có đúng không ?
Sau đây, Huy xin giới thiệu một vấn đề về phân tâm học, là một chương trích trong tập bản thảo TÍCH HỢP QUYỀN MƯU HỌC (phân tích lý luận hình thành Tam thập lục kế) của Huy viết đã lâu nhưng chưa hoàn tất:

MÂU THUẪN, MỘT HẠT NHÂN BIỆN CHỨNG
TRONG QUYỀN MƯU HỌC


NGUYỄN ANH HUY
Cựu học sinh Quốc Học - Huế
Lớp A khóa 1982-1985


Lịch sử phát triển nhân loại cũng chính là lịch sử quyền mưu. Quyền là thay đổi để thích hợp, mưu là suy nghĩ để vượt khó. Như vậy, từ lúc lọt lòng cho đến cuối đời, bất cứ lúc nào, nơi đâu... chiến trường, thương trường, tình trường... mọi người đều dùng quyền mưu để giành thắng lợi cho bản thân mình.
Nghìn xưa về trước đã xuất hiện những nhà quyền mưu học như Tôn Tử, Ngô Khởi, Trương Lương, Trần Bình, Gia Cát Lượng, Nhạc Phi... Tài trí của họ đã được các học giả đời sau tích hợp thành các cẩm nang, bí kíp... Tuy vậy, “những thành tựu nghiên cứu cho tới hôm nay phần lớn mới dừng lại ở sự chú thích, bình luận điển tích quyền mưu hoặc phân loại câu chuyện... rất ít người nghiên cứu thảo luận về mặt lý luận của quyền mưu ở dạng chỉnh thể...”.
Tìm hiểu và tổng hợp về Quyền mưu học đã thôi thúc, song khi vào cuộc mới thấy kiến thức bản thân còn quá thô thiển hạn hẹp và đã lạc vào rừng hoa bát ngát không biết phải bắt đầu từ đâu. Cũng may, sau khi đất nước mở cửa, du nhập những kết quả nghiên cứu mới, tôi mới được đọc những tác phẩm bổ ích như quyển Quyền mưu thần bí. Tuy vậy, một số điểm trong sách tôi chưa đồng ý hẳn.
Trên nền tảng thành công của các nhà nghiên cứu đi trước và cũng trên cơ sở hạn chế của họ, tôi có ý muốn bổ túc thêm vào những ý kiến của riêng mình. Với tinh thần khoa học và cầu tiến, tôi không sợ những điều mình nói ra là sai, mà chỉ sợ không đủ can đảm để nói lên những ý nghĩ trong lòng, do vậy, xin mạo muội đưa ra những suy nghĩ của mình, có thể sẽ rất sai, rất mong độc giả vui lòng chỉ bảo thêm.
Đi vào nghiên cứu quyền mưu, chúng ta sẽ bắt gặp những yếu tố mâu thuẫn tạo nên cấu trúc quyền mưu như “hư / thật”, “thuận / nghịch”... Đưa ra các cặp phạm trù để tìm cốt lõi của quyền mưu học là đúng, nhưng đó chỉ là logic hình thức. Nhưng nếu nghiên cứu phối hợp trên Phân tâm học các thành phần cấu tạo quyền mưu thì mới là logic biện chứng. Bởi vì quyền mưu là sản phẩm của trí tuệ mà ra!
Để thực hiện các ý kiến đã nêu, tôi dùng phương pháp phân tích - tổng hợp, trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và quan điểm duy vật lịch sử. Bản thân không hề có tham vọng tìm lại gốc gác của quyền mưu mà chỉ có ý muốn mở ra một hướng mới bằng sự say mê cá nhân... rất mong sự tiếp tay của quý bằng hữu... Trong giới hạn của tiểu luận này, tôi chỉ xin phân tích cặp phạm trù “hư / thật”, là một cấu trúc rất thường được sử dụng trong binh pháp.
Cuộc sống thiên hình vạn trạng, luôn thay đổi nên sự vận dụng quyền mưu rất đa dạng, phong phú như người ta nói : “trăm phương nghìn kế”. Do vậy, nếu không có phương pháp nghiên cứu đúng, người tìm hiểu quyền mưu học thường lạc vào ngàn hoa cỏ dại không biết nơi đâu mà lần. Để tìm ra cốt lõi, chúng ta cần tìm hiểu quyền mưu được cấu tạo và hình thành như thế nào?
Bất cứ một quyền mưu nào cũng bao gồm 4 thành phần kết hợp:
- Chủ thể quyền mưu : chỉ phía nghĩ ra và vận dụng quyền mưu.
- Khách thể quyền mưu : chỉ phía bị quyền mưu chi phối.
- Trường quyền mưu : là những điều kiện khách quan làm chổ dựa cho mưu kế như thời gian, không gian, địa điểm cùng các yếu tố hỗ trợ...
- Bản thể quyền mưu : là những hành vi, ngôn ngữ, kỹ xảo... xuất phát từ trí tuệ con người để thực hiện mưu kế trong một trường quyền mưu.
Có thể hình dung 4 yếu tố cấu tạo quyền mưu tương tự một ván cờ mà hai người đánh cờ là chủ thể và khách thể quyền mưu, bàn cờ chính là trường quyền mưu, còn đường đi nước bước của các quân cờ chính là bản thể quyền mưu...
Như vậy, chủ và khách là hai thành phần đối lập nhưng cùng dựa vào nhau trong trường quyền mưu để hình thành quyền mưu. Không có chủ thì không thể có khách và ngược lại. Hai thành phần này là một cặp mâu thuẫn trong cấu tạo quyền mưu, vì quyền lợi mà tìm cách loại trừ lẫn nhau. Từ mâu thuẫn này, khi vận dụng quyền mưu lại nảy sinh những mâu thuẫn mới, lừa nhau, đưa đối phương vào kế của mình...
Hai nhà nghiên cứu quyền mưu học người Trung Quốc là Triệu Quốc Hoa và Lưu Kiến Quốc cho rằng : “- Coi quyền mưu là một môn học thì phải đặt trọng tâm nghiên cứu vào bản thể quyền mưu”. Tôi chưa đồng ý hẳn với nhận định này, bởi nếu chỉ nghiên cứu bản thể quyền mưu mà không đặt trên nền tảng phân tích đặc điểm của chủ thể và khách thể cùng trường quyền mưu, e rất thiếu sót : bản thể quyền mưu hình thành từ đâu ? Không phải là sản phẩm trí tuệ của chủ thể quyền mưu ?
Biết mình, biết người, trăm trận không thua! Chủ thể quyền mưu phải dựa vào đặc điểm bản thân và đặc điểm đối phương cùng đặc điểm từng trường quyền mưu, từ đó mới hình thành được kế sách. Chính vì vậy quyền mưu mới biến hoá khôn lường ! Nhận thức được mình, đồng thời nhận thức được đối phương, đó là điều kiện tiên quyết để chiến thắng!
Từ cổ chí kim, từ đông sang tây... quyền mưu bàng bạc mọi khi, mọi nơi... không sao kể xiết... Tôi xin chọn các điển tích trong Tam Quốc diễn nghĩa, là truyện truyền kỳ rất nổi tiếng được nhiều người yêu thích, để làm ví dụ cho sự phân tích của mình...
l
1. Khổng Minh dùng kế khích Chu Du...
... Đến chiều gần tối, có tin báo Lỗ Tử Kính đưa Khổng Minh tới yết kiến... Thi lễ xong, chia ngôi chủ khách mà ngồi... Thế là hai bên tranh luận kịch liệt. Khổng Minh thấy thế chỉ khoanh tay ngồi cười nhạt.
Du hỏi: -Sao tiên sinh cười?
Khổng Minh nói: -Nào Lượng dám cười ai đâu! Chỉ cười Tử Kính không hiểu thời thế đấy thôi.
Túc hỏi: -Sao ông bảo tôi không hiểu thời thế?
Khổng Minh: -Chủ ý của Công Cẩn muốn hàng Tào Tháo là hợp lý lắm.
Du nói: -Khổng Minh là bậc sĩ thức thời vụ, đồng ý kiến với ta là phải!
Túc nổi giận, đâm gắt: -Khổng Minh! Sao ăn nói như thế mà nghe được?
Khổng Minh vẫn thản nhiên: -Tháo rất giỏi dùng binh, thiên hạ không ai chống nổi... Nay tướng quân quyết kế hàng Tào để giữ gìn vợ con, bảo toàn lấy phú quý như thế là phải. Còn vận nước đổi dời ra sao, cứ mặc cho số trời! Mình có thiệt gì mà tiếc?
Lỗ Túc đùng đùng trách mắng Khổng Minh: -Ngươi định xúi chúa công ta uốn gối chịu nhục với thằng quốc tặc Tào Tháo à?
Khổng Minh cứ nhơn nhơn như không, rồi bỗng dõng dạc nói: -Lượng này có một kế chẳng phải khó nhọc nạp ấn giao đất... cũng chẳng phải đem mình qua sông bái hàng Tào Tháo! Chỉ cần một người đi sứ, thả một chiếc thuyền con, chở hai người ở đây sang dâng Tào Tháo. Tháo được hai người ấy, tức thì trăm vạn quân cuốn cờ bó giáp rút lui về ngay!
Du ngạc nhiên hỏi: -Dùng hai người nào mà đẩy lui được quân Tào như thế?
Khổng Minh còn luận tán hoa văn: -Giang Đông này mất hai người ấy thì chỉ như rừng già rụng hai chiếc lá, kho Thái Thương mất hai hạt thóc. Nhưng Tháo mà được hai người ấy thì sung sướng mãn nguyện vô cùng, lui quân ngay tức khắc!
Du càng lấy làm lạ: -Nhưng dùng hai người nào mà được thế chứ???
Khổng Minh vẫn khoan thai: -Trước đây, Lượng còn ở núi Long Trung, có nghe Tháo xây cất một cái đài trên sông Chương Hà, đặt tên là Đồng Tước... Tháo vốn tuồng háo sắc, lại nghe đất Giang Đông này có ông cụ họ Kiều sinh được hai cô con gái... đều có dung nhan chim sa cá lặn... nên Tháo từng phát thệ rằng: “-Một là quét bình bốn bể làm nên đế nghiệp, hai là lấy được hai nàng Kiều Giang Đông đem về đài Đồng Tước, vui hưởng tuổi già. Được như thế thì khi chết ta không tiếc hận gì nữa!”. Nay Tháo đem trăm vạn quân tới đây như hổ dòm Giang Nam, thực ra chỉ vì hai cô gái ấy. Vậy tướng quân còn đợi gì mà không cho tìm ông họ Kiều, bỏ ra ngàn lạng vàng, mua lấy hai cô gái rồi sai người đem qua sông nạp cho Tháo? Tháo được hai mỹ nữ ấy, ắt hả hê sung sướng mà rút quân ngay lập tức. Đó chính là kế “Phạm Lãi dâng Tây Thi” đấy, nên làm ngay đi thôi!
Du nghe qua, tái mặt, vặn hỏi: -Có gì làm chứng rằng Tháo muốn lấy hai nàng Kiều không?
-Có chứ, Tháo có đứa con nhỏ là Tào Thực... có tài hạ bút thành văn. Khi xây xong đài Đồng Tước, Tháo sai con làm bài phú Đồng Tước đài. Bài này có ý khoe nhà hắn đáng giữ ngôi thiên tử và thề sẽ lấy được hai nàng Kiều.
-Ông có nhớ bài phú ấy không?
-Vì lời văn rất hoa mỹ, tôi đọc thấy cũng thích, nên nhẩm nhớ thuộc lòng.
-Xin đọc thử cho nghe?
Khổng Minh liền hắng giọng, đọc bài Đồng Tước đài phú một thôi như sau...
Bài phú này, thực ra đã bị Khổng Minh sửa đổi câu thứ 7. Nguyên văn câu này của Tào Thực là:
Bắc hai cầu đông tây nối lại,
Như cầu vồng sáng chói không gian...

Nhưng Khổng Minh đã đổi ra là:
Tìm hai nàng Kiều nam phương về sống,
Vui cùng nhau giấc mộng hồi xuân...

Chu Du nghe xong bài phú, đùng đùng nổi giận, dứng phắt dậy trỏ tay về phía bắc, nghiến răng trợn mắt mắng rằng: -Thằng giặc già dám khinh ta thế à! Ta thề giết nó!
Khổng Minh vội đứng dậy can khuyên: -Ngài đừng vội nóng giận! Xưa chúa Thiền Vu xâm lăng bờ cõi, thiên tử nhà Hán còn phải gả công chúa cho nó để giải hoà cầu thân nữa là? Nay Đông Ngô tiếc gì hai cô gái nhà dân ấy?
Du uất ức nói: -Thế ra ông chưa biết ư? Đại Kiều là chính phối của Tôn Bá Phù tướng quân! Còn Tiểu Kiều chính là vợ tôi chứ ai???
Khổng Minh giả bộ sợ hãi, vội chắp tay xá: -Quả tình Lượng không biết! Trót mở miệng nói càn, tội thật đáng chết! Đáng chết!
Du căm gan tím ruột, nghiến răng nói: -Ta thề không đội trời chung với thằng giặc già!
Khổng Minh còn cố khích thêm một câu: -Việc này phải nghĩ cho chín đã. Chớ nóng nãy mà hối về sau!
Du hăng lên nói: - Ta vâng lời Bá Phù ký thác, lẽ nào đi uốn mình hàng giặc Tào! Những lời ta nói hồi nãy là để thử ý nhau đấy chứ! Ngay từ lúc rời Bá Dương Hồ về đây, ta đã có chủ trương bắc phạt rồi. Dẫu đao búa kề đầu, quyết không đổi chí! Mong Khổng Minh giúp cho ta một tay, cùng phá giặc Tháo!
Khổng Minh lòng đã sướng như mở cờ, liền nói: - Đô đốc đã đoái dùng, tôi xin gắng sức khuyển mã, sớm tối bày mưu dưới trướng!


* Đây là hồi 44 trong truyện Tam Quốc, một ví dụ điển hình về chiến thuật địch vận trong trường chính trị, chủ thể quyền mưu là Khổng Minh dùng kế sách trong thật ngoài giả.
Khổng Minh thực hiện sách lược “liên Ngô diệt Tào”, nhưng Chu đô đốc muốn Khổng Minh phải cầu lụy mình nên giả cách hàng Tào. Mâu thuẫn nảy sinh, Khổng Minh tức thời hình thành mưu kế thuận đà đưa lưỡi đao tung phá. Đó cũng là một mâu thuẫn để đưa đà mâu thuẫn của Chu Du tăng cao thêm nữa. Hai đối tác tuy mâu thuẫn nhưng thống nhất trong trường mưu đấu trí, gây nảy sinh những mâu thuẫn mới... Bài phú là một yếu tố hỗ trợ trong trường quyền mưu cũng được lợi dụng để gây mâu thuẫn: mâu thuẫn với chính nó (vì đã bị sửa đổi) và mâu thuẫn với Chu Du. Khổng Minh giả vờ không biết Nhị Kiều là người thân của Chu Du, cũng là một mâu thuẫn... Và những mâu thuẫn đó cứ vận động, tương tác lẫn nhau qua hình thức đấu trí, gây ra những mâu thuẫn mới... Và mâu thuẫn đến tột cùng khi Khổng Minh ép thế Chu Du dâng vợ mình cho Tào Tháo.
Vật cùng tất biến, Chu Du tức khí nên “-Ta thề giết nó!”. Còn Khổng Minh “lòng đã sướng” vì đã... địch vận được! Đó là... chiến thắng được!

2. Quần anh hội, Tưởng Cán trúng kế...
...Tháo rất mừng, sai bày tiệc tiễn Cán lên đường. Cán đội khăn thưa, mặc áo vải, ngồi chiếc thuyền con, sang thẳng trại lớn Chu Du, bảo quân canh vào báo rằng: -Có cố nhân là Tưởng Cán đến thăm!
Bấy giờ Chu Du đang bàn việc trong trướng, nghe Cán đến thì cười bảo các tướng: -Thuyết khách đến đấy nhé!
Rồi ghé tai mọi người thì thầm dặn nhỏ... Tưởng Cán dẫn một chú tiểu đồng áo xanh ngang nhiên đi vào. Du vái chào đón tiếp.
Cán hỏi: -Thế nào? Công Cẩn lâu nay mạnh giỏi chứ?
Du nhếch miệng: -Kìa, bác Tử Dực, rõ vất vã quá! Bác chịu lặn lội song hồ đi làm thuyết khách cho họ Tào đấy ư?
Cán giật mình nói: -Ô hay, xa cách túc hạ quá lâu, nay nhớ tình cũ tìm tới thăm, sao lại ngờ là thuyết khách?
Du cười nói: -Du tuy không có đôi tai thần như Sư Khoáng ngày xưa, nhưng nghe tiếng đàn ca cũng hiểu được nhã ý. Còn giấu nhau nữa ư?
Cán nói: -Túc hạ đãi cố nhân thế này thì thôi, Cán xin cáo lui vậy!
Du cười ha hả, nắm tay níu lại: -Ấy, Du chỉ sợ huynh làm thuyết khách cho họ Tào đấy thôi. Nếu quả không có bụng như thế thì can gì phải về ngay?
Bèn dắt nhau vào trướng... truyền mở yến tiệc lớn... Du giới thiệu với các tướng: -Ông bạn đây vốn tình đồng song với ta, tuy từ Giang Bắc tới đây nhưng không phải là thuyết khách của họ Tào đâu! Các ông chớ nghi ngờ.
...Chu Du xoa tay khoan khoái bảo mọi người: -Từ hôm lĩnh quân xuất sư tới nay, ta chưa uống một giọt rượu nào. Nay có bạn cũ tới thăm, lại không có điều gì đáng nghi, vậy phải uống một bữa cho say mới được!
...Du bảo Cán: -Đã lâu lắm, không chung giường với Tử Dực. Đêm nay phải gác chân lên nhau mà ngủ mới ngon!
Bèn giả tảng quá say, lảo đảo dìu Cán vào màn đi ngủ. Du cứ mặc cả áo dài lăn ra giường mà nằm. Lại nôn ọe lên hừng hừng, rồi sau mửa cả ra chiếu... Cán cứ úp tai gối thao thức... Khi nghe trống trung quân canh hai, nhổm dậy thấy ngọn đèn leo lét, quay nhìn Du thì bấy giờ đã ngủ say, tiếng ngáy như sấm. Cán nhìn qua cái án thư trong trướng, thấy văn thư xếp một chồng cao, bèn rón rén bước tới xem trộm, mới biết rặt những thư tín các nơi gởi về. Lục lọi vào giữa, chợt thấy một phong thư ngoài đề mấy chữ: “Thái Mạo, Trương Doãn cẩn phong”. Cán giật mình, mở ra xem trộm... Xem xong nghĩ thầm: “-Té ra Thái Mạo, Trương Doãn ngầm liên kết với Đông Ngô rồi! Chết chưa!”.
Bèn giấu bức thư ấy vào mình. Đang xem đến thư khác thì Chu Du bỗng trở mình ú ớ trên giường. Cán vội tắt phụt đèn, bước lại nằm giả ngủ. Bỗng miệng Du lảm nhảm nói: -Tử Dực! Chỉ vài ngày nữa rồi ta cho coi cái đầu thằng giặc Tháo!
Cán đành ậm ừ đáp lại một tiếng. Nhưng Du lại ồ ề lớn hơn: -Ồ, Tử Dực cứ ở đây, rồi ta cho xem cái đầu... giặc Tháo!
Nhưng Cán cất tiếng hỏi thêm, thì Du lại ngủ mê mệt mất rồi, Cán nằm phục trên giường miên man nghĩ ngợi...
Đến đầu canh tư, bỗng có bóng người đi vào trướng khẽ lay gọi: -Bẩm, đô đốc đã tỉnh chưa?
Chu Du đang mơ màng, bỗng thức giấc, nhớn nhác ngồi dậy, rồi hỏi người ấy: -Ô hay, ai ngủ trên giường thế này?
Người ấy bẩm: -Đô đốc mời Tử Dực ngủ chung. Đô đốc quên rồi ư?
Du có ý hối, phàn nàn: -Bình nhật ta chưa quá chén thế này bao giờ. Tối qua uống say quá! Không biết ta có nói điều gì lỡ làng không?
Người ấy hạ giọng: -Vừa có người từ Giang Bắc tới đây...
Nhưng Du vội ra hiệu bảo im, rồi gọi Tưởng Cán: -Tử Dực! Tử Dực còn thức đấy chứ?
Cán giả vờ ngủ say. Du khẻ nhổm dậy, rón rén bước ra ngoài trướng. Cán cố lóng tai, chỉ nghe tiếng người nọ thì thào bảo Du: -Hai vị đô đốc họ Trương, Thái cho người sang bảo rằng lúc này chưa thể hạ thủ ngay được!...
Rồi những câu về sau, người ấy với Du nói nhỏ quá, Cán không hiểu là bàn những gì. Lát sau, Du trở vào, lại lay gọi Cán: -Tử Dực! Tử Dực!
Cán cứ nằm im, vùi đầu giả ngủ say. Du mới cởi áo ngoài nằm ngủ...
Cán nghĩ bụng: “-Chu Du là người tinh tế, đến sáng tìm mà không thấy bức thư, ắt sẽ hại ta. Khó mà về thoát”. Đến canh năm, Cán ngồi dậy lên tiếng gọi Du. Du vẫn ngủ say không thưa. Cán bèn đội khăn mặc áo, ngầm bước ra khỏi trướng, gọi tiểu đồng, rồi đi thẳng ra viên môn. Quân canh hỏi: -Tiên sinh đi đâu?
Cán đáp: -Ta ở đây lâu, sợ làm phiền lỡ việc của đô đốc, nên tạm cáo biệt.
Quân sĩ không ngăn cản. Thế là Cán xuống thuyền sai chèo thật nhanh về yết kiến Tào Tháo...

* Đây là hồi 45 của truyện Tam Quốc, một ví dụ điển hình về nghệ thuật phản gián thật tinh xảo! Chủ thể quyền mưu là Chu Du, đã dự kiến sẵn kế sách trong giả ngoài thật.
Khởi đầu, Du tiên phát chế nhân, chơi ngay ván bài lật ngữa (dương mưu) bảo Cán là thuyết khách, rồi lợi dụng Cán chối quanh, lại bảo Cán không phải là thuyết khách (âm mưu). Đậu đường đã thành chè, nên thêm vài hạt muối, có vẻ tương phản nhưng lại thêm phần tương thành (làm cho Cán yên tâm hơn), vị ngọt thêm thanh tao, hạt chè thêm thấm thía, nghệ thuật thêm phần ảo diệu, và câu chuyện... thêm phần thú vị!
Cán làm gián điệp, tức là vai chủ, nhưng Du lại phản khách vi chủ (đổi khách làm chủ, đổi chủ làm khách) biến Cán thành khách thể cho quyền mưu của mình. Đó là điểm mâu thuẫn lớn nhất mà Cán không biết.
Du từ chổ biết, giả làm không biết (đó là mâu thuẫn) như cố đi vào chỗ tối, nhưng trong tối nhìn ra sáng, gì cũng thấy cả! Cán từ chỗ không biết nhưng cứ tưởng mình biết (đó cũng là mâu thuẫn nội tại) bị Du đưa vào trường mưu ảo cảnh, chẳng phân biệt được thật giả...
Du tỉnh nhưng giả say, đó là mâu thuẫn. Còn Cán, cũng giả say, nhưng lại bị “say” thật! Những mâu thuẫn tiếp tục nẩy sinh nhưng không tương tác trực tiếp để bùng nổ mà lại hỗ tương cùng chiều, cộng hưởng để xoáy Cán vào vực sâu của một mâu thuẫn vô cùng lớn: Đó là... trộm phải thư giả!

3. Toán liệu cao, Gia Cát chẹn Hoa Dung...
... Vân Trường bèn viết tờ quân lệnh trạng, ký tên xong hỏi lại Khổng Minh: -Nếu Tào Tháo không chạy qua đường Hoa Dung thì sao?
Khổng Minh nói: -Ta cũng xin viết quân lệnh trạng với tướng quân!
Nói rồi viết ngay, Vân Trường rất mừng. Khổng Minh dặn ông: -Tướng quân hãy kéo vào con đường hẽm Hoa Dung, rồi lên núi cao chất cỏ đặt củi mà đốt cho khói lửa bốc lên, để dụ Tào Tháo đến nhé!
Vân Trường ngạc nhiên hỏi: -Tháo trông xa thấy khói lửa, ắt biết có mai phục, đâu còn dám đến nữa?
Khổng Minh cười nói: -Phải đâu ta không nhớ cái lý luận “hư hư thật thật” trong binh pháp? Nhưng Tháo rất giỏi dùng binh, phải làm thế mới lừa được nó. Nó thấy khói bốc, sẽ cho rằng chúng ta hư trương thanh thế chứ không phục ở đấy, mà phục chổ khác...
... Đang tiếp tục đi, bỗng quân sĩ quay lại bẩm: -Phía trước có hai ngã đường, xin thừa tướng truyền đi ngã nào?
Tháo hỏi: -Đi ngã nào gần hơn?
-Con đường lớn bằng phẳng dễ đi, nhưng xa hơn 50 dặm. Con đường nhỏ qua Hoa Dung thì gần được hơn 50 dặm, nhưng lối tắt nhỏ hẹp hiểm trở, lại núi cao gồ ghề khó đi.
Tháo sai người lên núi cao nhìn xem, thì họ trở xuống báo: -Trong con đường nhỏ men núi, có khói lửa bốc lên mấy chổ. Con đường lớn im lìm chẳng thấy động tĩnh gì.
Tháo bèn ra lệnh theo con đường nhỏ mà chạy. Các tướng hỏi: -Chổ có khói lửa ắt có quân mã đóng, sao lại đi đường ấy?
Tháo cười nói: -Há không nhớ binh thư có câu “hư là thực, thực là hư”? Gia Cát Lượng đa mưu nên sai người vào ghềnh núi đốt lửa, khiến quân ta không dám theo đường nhỏ rồi nó phục binh ở đường lớn đợi ta chứ gì! Ta thừa biết rồi, hắn lừa ta thế nào được?
...Các tướng miễn cưỡng đi theo. Đi chưa được vài dặm, Tháo đang ngồi trên yên, bỗng lại giơ roi về phía trước mà cười sằng sặc. Các tướng hỏi: - Sao thừa tướng còn cười nữa?
Tháo nói: - Người ta cứ đồn Chu Du với Gia Cát Lượng túc trí đa mưu, nhưng cứ như ta xét đây thì rút cục cũng chỉ là lũ vô dụng! Thử hỏi: nếu chúng biết phục một cánh quân ở chổ này, có phải chúng ta chỉ còn đưa tay chịu trói không?
Nhưng Tháo vừa dứt lời, đã nghe tiếng pháo nổ đùng!... Rồi 500 quân binh tinh tráng cầm đao kéo ra đón chặn. Viên đại tướng đi đầu chính là Quan Vân Trường, cầm Thanh Long Đao cỡi ngựa Xích Thố, đứng chặn đứt lối đi!...

* Hồi 50, một ví dụ điển hình về nghệ thuật dụ địch vào trận. Khổng Minh quyết định dùng kế sách trong thật mà ngoài cũng thật !
Sự thật của việc phục binh đã ló dạng qua hiện tượng khói lửa, nhưng tại sao Tào Tháo vẫn sa bẩy? mâu thuẫn xuất phát từ đâu???
Tháo vốn đa nghi, đó là mâu thuẫn tâm lý. Nghi ngờ là tốt, nhưng lại thuộc lòng và vận dụng binh pháp một cách cứng nhắc. Đó là mâu thuẫn với luật biến hóa...
Khổng Minh phục binh nhưng vẫn cho thấy có hiện tượng phục binh, đó là mâu thuẫn với bí mật quân sự. Tự tiết lộ quân cơ là điều chưa thấy xưa nay bao giờ, cho nên Tháo nghi ngờ, không tin ở đó có phục binh là đúng. Nhưng sự thật vẫn có phục binh, không như Tháo dự đoán. Thật ra, Khổng Minh đã biết rõ đặc tính của Tào Tháo nên lợi dụng triệt để mâu thuẫn bên trong họ Tào. Lấy mâu thuẫn của đối phương làm nền tảng cho sự biến hóa mâu thuẫn của mình: dùng ngược lại với binh pháp cổ! Đó là mâu thuẫn lớn nhất, đang chờ Tháo đến!

4. Khổng Minh ôm đàn, đuổi Tư Mã Ý chạy dài...
...Khổng Minh tự đem 5000 quân đến huyện Tây Thành vận chuyển lương thảo. Đến thành chưa kịp thu xếp, bỗng thám mã phi báo: -Tư Mã Ý kéo 15 vạn đại quân đang ồ ạt đến đây như sóng trào gió cuốn!
Đang sửng sốt thì lại tiếp luôn mười tin báo dồn dập như thế nữa. Bấy giờ bên mình Khổng Minh chẳng có một đại tướng nào, chỉ trơ một số quan văn. Có 5000 quân đem đến thì đã chia một nửa đi tải lương, trong thành chỉ còn 2500 người. Các quan văn nghe tin như sét nổ ngang tai, ai nấy tái mặt mà run như gà cắt tiết. Khổng Minh nhô lên thành trông xa, quả thấy cát bụi tung trời... Ông lập tức truyền lệnh hạ hết cờ quạt binh khí trên thành xuống, đem cất giấu đi, quân sĩ phải chia nhau nép trong các cửa, ai tự tiện ra vào lấp ló là chém, ai nói to gọi lớn cũng chém ngay. Rồi ông sai mở toang 4 cửa thành, mỗi cửa chỉ để 20 quân sĩ ăn mặc giả nhân dân, cứ thong thả quét đường ngõ, dọn phố xá và dặn họ rằng: “-Khi quân Ngụy đến, không được hoảng hốt, cứ bình tỉnh như không...”. Chuẩn bị xong, Khổng Minh mới khoát áo lông hạc, đội khăn luân cân, cắp một cây đàn, dẫn hai cậu tiểu đồng ung dung bước lên địch lâu. Rồi tiên sinh bệ vệ ngồi dựa lan can nhìn ra, sai đốt hương nghi ngút, lần tay... so phím tơ dạo mấy cung đàn! Chốc lát, đội tiền quân Nguỵ dến nơi, chợt thấy quang cảnh ly kỳ ấy, vội dừng ngay, không dám nhúc nhích và cho người phi ngựa trở lại báo Tư Mã Ý. Ý nghe báo, cười không tin! Bèn truyền đại quân tạm đóng lại, rồi Ý phi ngựa lên trước, tiến dần đến nhìn xem... thì quả thấy Khổng Minh đang ngồi chễm chệ trên lầu thành, cười nói ung dung, tươi như hoa nở! Bên khói hương dìu dặt, tay tả thoăn thoắt so phím đàn, tay hữu nhẹ nhàng búng dây tơ thánh thót... Bên trái, một cậu tiểu đồng nâng thanh bảo kiếm; bên phải, một cậu tiểu đồng cầm cây phất trần. Cửa thành thì mở toang, bên trong bên ngoài chỉ có vài mươi người dân đang cúi lom khom quét tướt... Ngoài ra, tất cả đều vắng tanh, im lìm! Ý nhìn qua một lượt, lòng đầy nghi hoặc... bỗng nghĩ sực ra một chuyện!!! Lập tức quay ngựa chạy về trung quân, truyền lệnh đổi hậu quân thành tiền đội, tiền đội quay lại làm hậu quân, tức tốc nhắm ra con đường phía bắc núi mà chạy!
Tư Mã Chiêu hỏi: -Có lẽ Gia Cát Lượng không quân không tướng nên bày trò ra thế. Sao phụ thân đã vội lui binh?
Ý lắc đầu giục: - Không được! Gia Cát Lượng bình sinh cẩn thận, không có làm liều bao giờ! Giờ nó mở rộng cửa thành, ắt đã mai phục 4 mặt, quân ta tiến lên là mắc mẹo!
Chiêu còn nghi hoặc muốn hỏi nữa, thì Ý quát lên: - Chúng mày con nít, biết gì? Hoả tốc lui mau.
Thế là hai đạo binh đông như kiến cỏ đột ngột kéo đến, rồi lại đột ngột chạy đi mất dạng. Khổng Minh thấy quân Nguỵ đã chạy xa, vỗ tay cười ầm lên. Các quan ai cũng ngạc nhiên, vẫn chưa hết sợ, vội hỏi: -Tư Mã Ý là danh tướng nước Nguỵ, nay thống xuất 15 vạn tinh binh tới đây, sao mới thấy thừa tướng đã vội bỏ chạy?
Khổng Minh giảng giải: -Vì hắn thấy ta bình sinh cẩn thận, chắc ta không làm liều bao giờ nên thấy quang cảnh này, hắn ngờ ngay là có phục binh, vội vã chạy trốn! Còn ta, thì chẳng muốn làm chuyện mạo hiểm làm gì. Chẳng qua bất đắc dĩ, hết đường phải dùng kế này đó thôi!...
Mọi người hiểu ra, đều giật mình bái phục: -Mưu cơ thừa tướng, đến quỷ thần cũng không lường được. Cứ như chúng tôi, thì đã bỏ thành mà chạy rồi.
Khổng Minh nói: -Quân ta chỉ có 2500 người, nếu bỏ thành mà chạy cũng chẳng trốn được xa, ắt bị Tư Mã Ý bắt sống!...
...Rồi Khổng Minh bỏ Tây Thành kéo quân dân chạy về Hán Trung... Còn Tư Mã Ý, sau khi chỉnh binh lại, chia đường truy kích, nhưng không kịp nữa: quân Thục đã về đến Hán Trung yên ổn cả rồi. Ý mới đem quân trở lại Tây Thành, nhân thể hỏi dân chúng còn lại trong thành... xem thực tình quân đội Khổng Minh trước đó ra sao thì ai cũng bẩm rằng... Ý hối tiếc thì đã muộn, mới ngửa mặt lên trời than: -Ta thật kém xa Gia Cát Lượng!

* Hồi 95, một ví dụ điển hình của đỉnh cao nghệ thuật nghi binh chặn địch. Trong tình thế hết kế, Khổng Minh tức thời dùng kế sách: trong giả mà ngoài cũng giả !
Binh pháp cổ đã có kế bỏ thành không, nghĩa là cho quân phục sau cửa thành, giả như không có quân (mâu thuẫn) rồi mở toang cửa thành dụ địch vào để bất ngờ chặn đánh. Song đó là khi có quân (về bản chất là có quân thật) nhưng giả làm như không có quân (hiện tượng giả), tức trong thật ngoài giả. Đó là mưu kế cổ điển đã được sử dụng nhiều...
Trong tình huống của Khổng Minh không có quân (bên trong giả), lại giả làm như có quân mai phục qua hiện tượng giả làm “Không thành kế”, tức lấy một cái giả để lồng vào một cái giả khác nữa (mâu thuẫn với kế cổ điển), quả thật ảo bí khôn lường! Tư Mã Ý đã được chỉ điểm nhưng tại sao vẫn bị lừa?
Nguồn gốc sự việc, Khổng Minh trước rất cẩn thận, nay vô kế khả thi, cực tất phản, phải chơi liều! Đó là tự mâu thuẫn với chính bản thân mình. Trong bụng rất lo sợ, nhưng vẫn cười nói ung dung, tươi như hoa nở, ngón tay đàn thong thả không loạn nhịp... hiện tượng mâu thuẫn với bản chất. Còn Tư Mã Ý, cũng biết Khổng Minh xưa nay cẩn thận, không làm liều bao giờ: đó cũng là mâu thuẫn trong tâm lý Tư Mã Ý, do bị chính mình đánh lừa! Biết Tư Mã Ý đánh giá mình như thế nên Khổng Minh đã tự mâu thuẫn với mình, và mâu thuẫn đó được dồn vào Ý nên Ý đã bị lừa! Thật kỳ diệu vô cùng!...

NHẬN ĐỊNH VỀ YẾU TỐ MÂU THUẪN :
Qua đó, ta thấy những yếu tố mâu thuẫn có mặt khắp nơi... khi ẩn, khi hiện...
Mâu thuẫn đầu tiên và cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa chủ thể và khách thể quyền mưu. Trong các ví dụ đã nêu là mâu thuẫn đối kháng giữa các thế lực chính trị là Tào Nguỵ với liên minh Ngô - Thục (Chu Du và Gia Cát Lượng) luôn tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Mâu thuẫn cơ bản cần phải giải quyết, từ đó hình thành quyền mưu và bản thể quyền mưu...
Mâu thuẫn cơ bản nói trên là mâu thuẫn chung mà quyền mưu nào cũng có, song tuỳ vào từng hoàn cảnh mà nó thể hiện riêng qua các mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn tình huống..., những mâu thuẫn tình huống riêng này đều bị mâu thuẫn cơ bản chi phối.
Ở ví dụ 1, xảy ra mâu thuẫn giữa Khổng Minh và Chu Du, mâu thuẫn này không đối kháng, và là mâu thuẫn bên trong liên minh chống Tào, chủ yếu ở đây là Chu Du muốn Gia Cát Lượng phải cầu luỵ mình. Ở ví dụ 2, trong mâu thuẫn đại cuộc nảy sinh mâu thuẫn tình huống, chủ yếu là Tháo cài gián điệp còn Du thì tìm cách phản gián. Ở ví dụ 3, cũng trên nền tảng mâu thuẫn cơ bản mà nảy sinh mâu thuẫn tình huống chọn đường: bên thì tìm đường thoát, còn bên thì tính đường chặn bắt. Ở ví dụ 4, mâu thuẫn chủ yếu cũng chính là mâu thuẫn cơ bản, trực tiếp: bên trốn, bên tìm!
Trong việc giải quyết mâu thuẫn, sự hình thành bản thể quyền mưu phải dựa trên cơ sở bản chất của mâu thuẫn đó, đồng thời dựa vào đặc điểm của chủ thể, khách thể và cả trường quyền mưu, tuỳ từng tình hình cụ thể mà có quyền mưu thích hợp. Do đó bản thể quyền mưu rất thiên hình vạn trạng...
Song dù quyền mưu có thiên biến vạn hoá thế nào đi nữa, dù là dự mưu (mưu kế đã dự kiến sẵn) hay tức mưu (mưu kế nảy sinh tức thời), thì cũng phải chọn một yếu tố mâu thuẫn làm hạt nhân, điểm tựa mà hình thành bản thể quyền mưu; và hạt nhân, điểm tựa đó không thể nằm ngoài cấu tạo của quyền mưu!
Một sự vật, hiện tượng có vận động mới gây mâu thuẫn, còn đứng im (theo nghĩa tương đối) thì không thể có mâu thuẫn. Trong 4 thành phần cấu tạo nên quyền mưu thì có 3 thành phần luôn vận động: chủ thể quyền mưu vận động bằng suy nghĩ và vận dụng quyền mưu, khách thể quyền mưu thì vận động bằng cách phản ứng với quyền mưu, còn bản thể quyền mưu thì vận động theo cách biến hoá dưới chi phối của chủ thể quyền mưu. Riêng trường quyền mưu là các yếu tố khách quan như ngoại cảnh, không mâu thuẫn; nhưng nó cũng sẽ mâu thuẫn nếu có sự tác động làm mất trạng thái vốn có của nó, lúc đó nó sẽ tự mâu thuẫn với chính nó vì đã bị biến dạng, đồng thời mâu thuẫn với khách thể quyền mưu:
Ở ví dụ 1, hạt nhân cần tìm là ở ngay trong trường quyền mưu, chính là bài phú! Bản thân bài phú chỉ là một sự vật tĩnh tại khách quan trong trường quyền mưu, nó chẳng mâu thuẫn gì ai! Nhưng khi bị Khổng Minh tác động (sửa đổi), nó đã “vận động” (thay đổi trạng thái) nên mâu thuẫn với chính vốn có của nó và mâu thuẫn với Chu Du, làm cho Du bị mắc lừa Khổng Minh!
Ở ví dụ 2, hạt nhân cần tìm là ở ngay trong bản thể quyền mưu! Biến hoá thì tạo mâu thuẫn! ở chỗ: phản khách vi chủ! Chu Du là khách thể quyền mưu của Tưởng Cán, nhưng Du lại biến Cán thành khách thể của mình, do đó Cán mới bị lừa!
Ở ví dụ 3, hạt nhân cần tìm nằm ngay trong khách thể quyền mưu: Tào Tháo rất đa nghi, nhưng lại dụng binh cứng nhắc. Khổng Minh đã lợi dụng mâu thuẫn đó để xây dựng bản thể quyền mưu của mình.
Ở ví dụ 4, hạt nhân cần tìm ngay trong chủ thể quyền mưu: xưa cẩn thận, nay làm liều, Khổng Minh lợi dụng sự mâu thuẫn của chính bản thân mình, hình thành quyền mưu và gạt được Tư Mã Ý.
Trong giả - ngoài thật, hoặc trong thật – ngoài giả là cấu trúc bình thường ai cũng làm được. Nhưng trong thật – ngoài thật, và nhất là trong giả - ngoài giả mà vẫn lừa được địch, quả là đỉnh cao của tuyệt học quyền mưu! Biết mình - biết người, là thế! Kết quả của quyền mưu phải được tổng hợp trên đầy đủ cả 4 yếu tố cấu tạo quyền mưu chứ không phải chỉ ở bản thể quyền mưu vậy!
l
Hư hư thật thật, chân chân giả giả... Quyền mưu học nghiên cứu trí tuệ và tâm lý con người, nên cũng là Nhân học. Con người vốn tự mâu thuẫn, từ đó mâu thuẫn với bên ngoài và hình thành quyền mưu...
Để có được quyền mưu, không thể không có một hạt nhân mâu thuẫn để làm nền tảng, điểm tựa cho sự phát triển quyền mưu. Tuỳ vào từng tình huống và hoàn cảnh cụ thể mà tìm hạt nhân ấy ở đâu? bản chất là gì? Và để đạt được kết quả cao trong quyền mưu, cần phải biết lợi dụng triệt để tất cả các mâu thuẫn trong tổng thể hài hoà cả các mối quan hệ: Những mâu thuẫn nhỏ không đối kháng thì nên lái chúng cùng chiều sẽ cộng hưởng để tạo mâu thuẫn lớn hơn. Mâu thuẫn đối kháng thì phải biết tuỳ thời kìm hãm hoặc thúc đẩy đến cực điểm dể chúng triệt tiêu lẫn nhau hoặc bùng nổ tạo nên những trạng thái mới.
Và để vận dụng quyền mưu, bản thể quyền mưu chỉ là một hình thức biểu hiện của quyền mưu, không có gì là quy tắc. Nếu nói đến quy tắc cần thiết để vận dụng quyền mưu thì đó là không theo một quy tắc nào cả, như vậy quyền mưu mới thiên biến vạn hoá và đạt được kết quả cao...
“Thiên biến vạn hoá”, đã bao hàm mâu thuẫn và thật giả!

Nguyễn Anh Huy, 2002

http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenanhhuy/170108-quyenmuu.htm

Nguyễn Anh Huy

Tổng số bài gửi : 48
Join date : 23/06/2010
Age : 50
Đến từ : Huế

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết